Truy cập nội dung luôn

 

Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử Huyện Tân Phước - Tỉnh Tiền Giang

Chi tiết tin

Cỡ chữ
Công tác di dân phát triển vùng kinh tế mới tỉnh Tiền Giang - gần 40 năm nhìn lại
11/05/2016

Công tác di dân phát triển vùng kinh tế mới Đồng Tháp Mười - tỉnh Tiền Giang qua 39 năm là một quá trình rất khó khăn, kết quả đạt được như ngày hôm nay là sự vận dụng đúng qui luật di dân của Đảng và nhà nước ta: là tạo sức hút ở nơi đến, chớ không phải sức đẩy ở nơi đi.

Chương trình di dân phát triển vùng kinh tế mới Đồng Tháp Mười (KTM ĐTM) của tỉnh Tiền Giang đã được bắt đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và kéo dài cho đến nay. Qua 39 năm thực hiện, kết quả đạt được là không nhỏ. Cùng với chính sách hổ trợ di dân đi xây dựng vùng KTM của Nhà nước, tỉnh Tiền Giang đã tập trung tương đối lớn nguồn lực, từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng ngày càng tốt hơn . Đây là nền tảng để thu hút nhân dân từ các nơi đến định cư trên vùng KTM ngày càng đông và đã tạo nên một vùng dân cư mới. Song song đó, tỉnh Tiền Giang cũng đã cơ bản khai thác hết diện tích đất hoang hóa để đưa vào sản xuất các loại cây phù hợp với điều kiện địa chất thủy văn như cây lúa, cây tràm, cây khoai mỡ và nhất là cây khóm, đang trở thành cây chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao của vùng KTM. Đặc biệt là vào tháng 8 năm 1994, trên vùng đất ngày nào còn hoang hóa, tỉnh ta đã hình thành nên huyện mới Tân Phước theo Nghị định số 68/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính Phủ. Và đã 20 năm qua, huyện mới Tân Phước đang từng ngày phát triển .

Việc đánh giá hết được quảng thời gian 39 năm thực hiện công tác di dân khai thác vùng KTM ĐTM của tỉnh là rất khó. Bài viết này chỉ mong cung cấp một số thông tin để người đọc có thể hình dung được những việc mà tỉnh ta đã làm trong quá trình thực hiện công tác này .

Quá trình thực hiện công tác di dân khai thác vùng KTM ĐTM của tỉnh TG có thể tạm chia thành ba giai đoạn . Giai đoạn I là trước khi có chủ trương tập trung khai thác vùng ĐTM của Chính phủ (1975 – 1987) . Giai đoạn II là sau khi có chủ trương khai thác vùng ĐTM đến khi thành lập huyện Tân Phước (1987 – 1994) . Và giai đoạn III là từ sau khi thành lập huyện Tân Phước đến nay .

Công tác di dân khai thác vùng KTM ĐTM giai đoạn 1975 – 1987 :

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, vùng KTM ĐTM tỉnh Tiền Giang là một vùng đất hoang hóa với các loại cây mọc hoang như năng, lát, đưng, bàng … và có rất ít người sinh sống . Nhân dân sinh sống chủ yếu ven theo kinh Nguyễn Tấn Thành, kinh Nguyễn Văn Tiếp và khu vực Chùa Phật Đá. Vùng đất này lúc bấy giờ thuộc hai huyện Cai Lậy và huyện Châu Thành .

Để tổ chức di dân đến định cư, khai thác đất hoang hóa trên vùng KTM, tỉnh Tiền Giang đã thành lập Ban khai hoang xây dựng vùng KTM và Ban chỉ đạo xây dựng vùng chuyên canh. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã thành lập hai khu KTM là Tân Lập, Tân Hòa Đông thuộc huyện Châu Thành, đồng thời đã tổ chức đưa hàng trăm hộ dân ở thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Mỹ Tho đi xây dựng KTM ở các xã này . Tuy nhiên, do mục tiêu di dân chỉ nhằm dãn dân ở thành phố lại không có quy hoạch sản xuất phù hợp với điều kiện địa chất, thủy văn của vùng. Mặt khác, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng hầu như chưa có (con kinh Bắc Đông ngày ấy chỉ là một con kinh được đào bằng tay có từ thời Pháp thuộc, mặt kinh rộng khoảng 4 - 5 mét, đáy kinh mọc đầy năng . Nếu ai muốn đến xã Tân Hòa Đông thì phải đi bằng xuồng ba lá và chỉ có thể chống bằng sào chứ không thể bơi được). Do điều kiện sống quá khó khăn như thế nên đa số hộ dân được đưa đi KTM nói trên đã lần lượt bỏ đi nơi khác, chỉ còn một vài trường hợp kiên trì định cư đến hôm nay và có hộ đã trở nên khá giả, điển hình như gia đình Ông Hai Bắc ở xã Tân Hòa Đông . Ngoài ra, trong thời gian này cũng có một số hộ dân nghèo không có đất sản xuất đã tự tìm đến khai khẩn đất hoang và định cư trên vùng đất này . Đến nay cũng có hộ có của ăn, của để như gia đình Ông Chín Nha ở xã Tân Hòa Đông .

Song song đó, để tập trung khai thác đất hoang hóa trên vùng KTM, tỉnh Tiền Giang cũng đã thành lập các Nông, Lâm trường trực thuộc tỉnh và các huyện, thành phố Mỹ Tho …và đã đầu tư rất lớn sức người, sức của từ ngân sách Nhà nước, từ lao động XHCN và lao động công ích . Từ đó đã mở ra một vùng rừng tràm rộng lớn với hàng chục ngàn ha, cùng với cây khóm bước đầu được đưa vào canh tác và dần dần phát triển để trở thành một trong những cây chủ lực trên vùng KTM như hiện nay. Tuy nhiên do chưa có quy hoạch sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng cũng như thiếu lao động chăm sóc nên có lúc các nông trường đã đưa vào canh tác những loại cây như điều, bạch đàn … hiệu quả kinh tế không cao. Mặt khác, do chưa có qui trình sản xuất phù hợp như đào mương để lên líp trồng khóm quá sâu vô tình đã đưa lớp đất sét của tầng sinh phèn lên trên mặt líp làm hạn chế sự phát triển của cây khóm dẫn đến năng suất không cao .

Tổ chức bộ máy làm công tác di dân và xây dựng vùng KTM trong giai đoạn này cũng có sự thay đổi . Cuối năm 1983 Chi cục Điều động lao động và dân cư được thành lập, sau đó đổi tên là Chi Cục di dân phát triển vùng kinh tế mới (nay là Chi Cục phát triển nông thôn). Cuối năm 1985 Ban Khai hoang xây dựng vùng KTM và Ban Chỉ đạo xây dựng vùng chuyên canh được giải thể .

Nhìn chung công tác di dân phát triển vùng KTM ĐTM giai đoạn này tuy có sự tập trung tương đối lớn về sức người, sức của nhưng hiệu quả chưa cao do thiếu quy hoạch phù hợp, thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu lao động, chưa khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đất đai. Giai đoạn này có thể được coi như là một bài học kinh nghiệm cho giai đoạn sau khi có chủ trương tập trung khai thác vùng ĐTM của Chính phủ .

Công tác di dân phát triển vùng KTM ĐTM giai đoạn 1987 – 1994 :

Thực hiện chủ trương của Chính Phủ về việc tập trung khai thác và phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH) vùng ĐTM (Chỉ thị số 74/HĐBT, ngày 18/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng), tỉnh Tiền Giang đã thành lập Ban Chỉ đạo khai thác và phát triển KT – XH vùng ĐTM của tỉnh và các huyện. Đồng thời, tỉnh cũng đã xây dựng đề án khai thác tiềm năng và phát triển KT – XH vùng ĐTM làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện .

Song song đó, tỉnh TG đã cho giải thể các Nông lâm trường trực thuộc tỉnh và các huyện, TP Mỹ Tho để giao đất cho dân nhằm tạo điều kiện thu hút nguồn lực từ trong dân đầu tư khai thác vùng đất mới (chỉ giữ lại nông trường Tân Lập trực thuộc Công ty Rau quả chuyên canh sản xuất khóm làm nguồn nguyên liệu ổn định, bảo đảm một phần nguyên liệu đầu vào cho các xí nghiệp chế biến khóm của công ty). Mặt khác, tỉnh TG cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng xây dựng các dự án đầu tư như " Dự án di dân xây dựng vùng KTM ĐTM tỉnh Tiền Giang ", "Dự án thủy lợi Bắc Đông" nhằm tranh thủ và tập trung các nguồn vốn để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như các công trình thủy lợi, giao thông nông thôn, trường tiểu học, trạm xá, nước sinh hoạt … phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân . Ngoài ra, trong giai đoạn này, tỉnh cũng đã xây dựng đề án và chuẩn bị mọi điều kiện để trình Chính phủ quyết định thành lập huyện mới Tân Phước và các xã mới .

Với sự tập trung tương đối lớn các nguồn lực và thực hiện các động thái như đã nêu trên, trong giai đoạn này, các địa phương đã tổ chức giao phần lớn quỹ đất do địa phương quản lý cũng như của các nông, lâm trường trước đây cho nhân dân từ các huyện trong tỉnh có nhu cầu nhận đất khai hoang sản xuất . Đồng thời, cùng với chính sách hổ trợ di dân đi xây dựng vùng KTM, các ngành chức năng cũng đã triển khai xây dựng một phần cơ sở hạ tầng thiết yếu, trước mắt có thể đảm bảo phục vụ nhu cầu tối thiểu, tạo sức hút để nhân dân yên tâm đến định cư, đầu tư khai hoang, phát triển sản xuất trên vùng đất mới . Trong giai đoạn này đã có hơn 3000 ha đất hoang hóa được khai hoang đưa vào sản xuất và gần 2.000 hộ dân đến định cư trên vùng KTM ĐTM . Kết quả là cho đến khi thành lập huyện mới, diện tích đất nông lâm nghiệp của huyện là khoảng 17 ngàn ha/ hơn 33 ngàn ha đất tự nhiên và hơn 7 ngàn hộ dân với dân số hơn 42 ngàn người . Đây là nền tảng vững chắc và là cơ sở thực tiễn có tính thuyết phục cao để Chính phủ ban hành Nghị định số 68/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 thành lập huyện mới Tân Phước theo đề nghị của tỉnh Tiền Giang, tạo nên một bước ngoặc mới, một nguồn lực mới đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, tốc độ di dân đến định cư, khai thác đưa vào sản xuất vùng đất ngày nào còn hoang hóa, từng bước tạo nên vùng dân cư mới ở nơi mà trước đây còn thưa vắng bóng người .

Công tác di dân phát triển vùng KTM ĐTM giai đoạn 1994 đến nay:

Sau khi huyện mới Tân Phước được thành lập vào tháng 8 năm 1994, công tác di dân phát triển vùng KTM ĐTM của tỉnh TG đã được tập trung nhiều hơn . Cùng với việc quy hoạch phát triển KT-XH của huyện mới Tân Phước, tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân ngày càng tốt hơn. Đồng thời công tác vận động nhân dân đã nhận đất đầu tư khai hoang sản xuất và di dân vào định cư trên vùng KTM cũng đã được đẩy mạnh, tạo nên khí thế rất sôi nổi nhất là những năm đầu khi mới vừa thành lập huyện .

Với sự tập trung cao độ đó, đến nay cơ sở hạ tầng ở huyện Tân Phước đã cơ bản phục vụ sản xuất và ổn định đời sống của nhân dân. Từ đó đã thu hút thêm hơn 4.000 hộ dân từ các nơi đến định cư trên vùng KTM và đã cơ bản tổ chức khai hoang hết hơn 15 ngàn ha đất ngày nào còn hoang hóa để đưa vào sản xuất các loại cây chủ yếu như khóm, tràm, lúa, khoai, màu … . Nhất là đối với cây khóm, đã trở thành cây chủ lực trên vùng KTM với hơn 16 ngàn ha được khoanh bao ngăn lũ triệt đễ, tạo điều kiện cho người dân an tâm đầu tư sản xuất và định cư lâu dài trên vùng đất mới .

Với những gì đã và đang diễn ra, chúng ta có thể tự tin mà khẳng định rằng vùng KTM huyện Tân Phước đã thay đổi toàn diện từ một vùng đất ngày nào còn hoang vu thưa vắng bóng người nay đã trở thành một vùng phát triển kinh tế sôi động, thu hút các dự án lớn vào khu cụm công nghiệp và đang hình thành tuyến du lịch sinh thái của tỉnh. Nnhững thay đổi nhanh đến nỗi những người dân cố cựu ở đây hoặc những người có khoảng thời gian dài gắn bó với công việc đầu tư cho vùng này cũng không thể ngờ được. Đối với những người sau một thời gian dài mới có dịp trở lại vùng này thì lại càng bất ngờ hơn vì những sự thay đổi vượt bậc đó. Còn đối với những người sau này mới có dịp đến đây thì họ sẽ không thể hình dung được vùng này trước đây là một vùng hoang vu thưa vắng bóng người .

Đạt được những kết quả to lớn đó là kết quả của việc thực hiện đúng qui luật di dân phát triển vùng KTM. Đó là tạo sức hút ở nơi đến chớ không phải sức đẩy ở nơi đi; di dân đến nơi mà tương lai sẽ có đời sống tốt đẹp hơn ở nơi cũ. Chúng ta đã làm cho nhân dân tin vào tương lai phát triển của vùng KTM để họ yên tâm rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn và chọn vùng KTM huyện Tân Phước làm quê hương thứ hai .

Ngoài ra, thực hiện chủ trương của Chính phủ, năm 1989 Tiền giang còn được UBND tỉnh Long An quy hoạch một vùng đất rộng khoảng 5.000 ha phía bắc kinh Bắc Đông thuộc địa bàn 4 xã Tân Đông, Tân Tây, Thủy Đông và Thủy Tây huyện Thạnh Hóa để làm địa bàn di dân đi ngoài tỉnh . Việc giao đất ở vùng này chủ yếu tập trung cho nhân dân 3 huyện Cai Lậy, Chợ Gạo và Gò Công Tây. Được sự chấp thuận của Bộ Nông nghiệp và PTNT, hai tỉnh Tiền Giang và Long An đã kết hợp đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân như kênh mương, cầu đường giao thông nông thôn, trường tiểu học … Tính đến thời điểm hiện nay, đã cóù hơn 1.000 hộ dân Tiền Giang đến định cư khai hoang sản xuất trên vùng này . Trong thời gian sắp tới, theo thỏa thuận của hai tỉnh,  tỉnh Long An sẽ tiếp tục đầu tư để từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng trong vùng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân và tỉnh Tiền Giang sẽ đầu tư xây dựng cầu Ngã Năm Bắc Đông bắc qua kênh Bắc Đông nhằm phục vụ cho sự phát triển chung của hai huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang và Thạnh Hóa tỉnh Long An .

Công tác di dân phát triển vùng KTM ĐTM trong giai đoạn sắp tới :

Công tác di dân phát triển vùng KTM trong giai đoạn sắp tới chủ yếu tập trung vào những nội dung chủ yếu như sau :

Thứ nhất là từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân ngày càng tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nhân dân tiếp tục đến định cư trên vùng KTM ngày càng đông hơn nhằm phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa lớn .

Thứ hai là nghiên cứu, chuyển giao các ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ phục vụ sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản, đặc biệt là đối với cây khóm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tận dụng phụ phẩm để việc sản xuất của nhân dân trên vùng KTM ngày càng đạt hiệu quả hơn .

Thứ ba là có cơ chế, chính sách đầu tư thích hợp để tạo việc làm và thu nhập ổn định cho nhân dân trong những vùng được quy hoạch trồng tràm nhất là vùng đệm của Khu Bảo tồn Sinh thái ĐTM như phát triển chăn nuôi, phát triển ngành nghề để giữ diện tích rừng tràm hiện có .

Thứ tư là từng bước xây dựng và phát triển quan hệ sản xuất theo hướng hợp tác phù hợp với điều kiện sản xuất chuyên canh lại phải thường xuyên đối phó với lũ lụt hàng năm và trong bối cảnh nước ta đang  hội nhập với kinh tế quốc tế .

Thứ năm là tiếp tục di dân có trình độ và tay nghề qua đào tạo khi các cụm, khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tân Phước phát triển mạnh, nhất là khu vực Quy hoạch công nghiệp đông nam Tân Phước.

Chúng ta tin rằng với những thành quả đã đạt được trong thời gian qua và sự tập trung của các cấp, các ngành trong thời gian tới, công tác di dân phát triển vùng KTM sẽ tiếp tục thu được kết quả mới. Vùng KTM huyện Tân Phước ngày nào còn hoang vu thưa vắng bóng người, trong tương lai sẽ trở thành một vùng kinh tế năng động, khu dân cư trù phú, khu công nghiệp hiện đại và vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn với cây khóm là cây chủ lực và là nơi thu hút khách du lịch tìm về với thiên nhiên của vùng sinh thái ĐTM với những loài sinh vật đặc hữu đã và đang được quan tâm bảo tồn và phát triển ./.

                                                                                                                                          Nguyễn Văn Lâm + Lê Lưỡng

(UBND huyện Tân Phước)
Cỡ chữ
Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Thông báo Thông báo

Văn bản giao đất Văn bản giao đất

VĂN BẢN MỚI
  Về việc giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ bà Lê Thị Kim Thanh
  thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình đường tỉnh 878
  V/v triển khai thực hiện Quyết định số 3740/QĐ-UBND ngày 28/12/2015 của UBND tỉnh Tiền Giang
  V/v giao đất ở nông thôn cho ông Trần Chí Phương
  V/v giao đất ở nông thôn cho ông Trần Chí Diện

Thông tin quy hoạch Thông tin quy hoạch

Phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020

Quy hoạch tổng thể

Quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch xây dựng

Quy hoạch khu, cụm công nghiệp

Quy hoạch ngành

Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Video Video

Tất cả videos

Liên kết Liên kết

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 2
  Hôm nay: 97
  Tổng lượt truy cập: 52950